Tổng quan System Center Virtual Machine Manager – Phần 2

II. Kiến trúc và port trong VMM 2008

Trong chương trước đã giới thiệu sơ qua về các thành phần trong VMM. Lúc này sẽ có vài người đặt ra vần đề là sự hiểu biết về kiến trúc của VMM 2008 là không cần thiết để có thể sử dụng công nghệ này trong quản lý, tuy nhiên có một sự hiểu biết cơ bản về cách các hệ thống vận hành có thể rất có ích, đặc biệt là khi cố gắng chẩn đoán vấn đề phát sinh. Đặc biệt là trong triển khai cấu hình một hệ thống phân tán, hiểu rõ cơ chế vận hành của các thành phần thông qua các port là một vấn đề tiên quyết.

1. Sơ đồ kiến trúc VMM 2008

Như đã đề cập ở chương trước VMM 2008 là công cụ được tập hợp các thành phần hoạt động khác nhau được triển khai trên cùng một máy chủ hoặc phân tán chúng trên một dãi máy chủ. Các thành phần này liên lạc trao đổi với nhau thông qua một thành phân nhân trong VMM 2008 gọi là VMM server có vai trò sử dụng các giao thức khác nhau trong quá trình trao đổi với các thành phần khác. Ngoài việc trao đổi với các thành phần bên trong thì vai trò chính của VMM server còn là liên lạc với các máy chủ đang vận hành các máy ảo trên đó nhằm thực thi các thao tác quản lý. Sơ đồ sau đây cung cấp cái nhìn toàn cảnh cao nhất của nền tảng VMM 2008 và các giao thức liên lạc chính giữa chúng.

clip_image002


2. Lớp VMM 2008 Client

Lớp khách hàng (Client Layer), đây là lớp trên cùng trong sớ đồ nền tảng của VMM 2008 bao gồm trong đó là 4 đối tượng chính VMM Administrator Console, VMM Self-Service portal, Systems Center OpsMgr và Windows PowerShell cmdlets. Như sơ đồ miêu tả thì có lẽ phần nào hình dung ra được bất cứ thao tác nào muốn được thi trên các thành phần của nhóm này (ngoài thành phần PowerShell) đều phải thông qua bước trung gian chuyển thành các kịch bản Powershell và được kích hoạt sau đó. Các thành phần này đều cung cấp giao diện người dùng cho việc quản lý và giám sát các máy chủ ảo hóa, máy ảo và cơ sở hạ tầng ảo hóa một cách tổng thể.

Các thành phần trên VMM 2008 Client Layer liên lạc với VMM server nằm trong Engine Layer bằng cách sử dụng Windows Communication Foundation (WCF).

WCF là viết tắt cho Windows Communication Foundation. Đây là công nghệ mới nhất của Microsoft cho phép ứng dụng trong môi trường phân phối cho các giao tiếp với nhau.

WCF là lập trình mô hình thống nhất của Microsoft cho việc xây dựng các ứng dụng dịch vụ theo định hướng. Nó cho phép các nhà phát triển để xây dựng an toàn, đáng tin cậy, giao dịch giải pháp tích hợp trên nền tảng và tương thích với các khoản đầu tư hiện có. WCF được xây dựng trên Microsoft NET Framework. Và đơn giản hóa việc phát triển hệ thống kết nối. Nó hợp nhất cho một loạt các hệ thống phân phối khả năng trong một kiến trúc composable mở rộng, hỗ trợ vận chuyển nhiều, tin nhắn hình, mã hóa, topo mạng, và các mô hình lưu trữ. Nó là phiên bản kế tiếp của một số sản phẩm hiện có-ASP.NET ‘s phương pháp web (ASMX) và Microsoft Cải tiến các dịch vụ Web (WSE) cho Microsoft NET,. NET Remoting., Doanh nghiệp dịch vụ, và System.Messaging.

Mục đích của WCF là cung cấp một mô hình lập trình duy nhất có thể được sử dụng để tạo các dịch vụ trên nền tảng NET. Cho các tổ chức.

3. Lớp VMM 2008 Engine

Lớp này chủ yếu chứa hai thành phần chính là Virtual Machine Manager Server (VMM server) và SQL Server Database. Như các mô tả đã đế cập torng chương trước, VMM server là một thành phần nhân trung tâm của nền tảng VMM. Tất cả các thành phần khác muốn hoạt động liên lạc, trao đổi với các thành phần còn lại đều phải thông qua VMM Server. Thêm vào đó, VMM Server hoạt động như một VMM library Server mặc định và cung cung cấp một giao diện (interface) liên kết với SQL Server Databse nơi mà các thông tin cấu hình về hạ tầng ảo hóa đang được lưu trữ.

Một loạt các giao thức được sử dụng bởi VMM Server để giao tiếp với các thành phần khác nhau trong kiến trúc. Như đã được giới thiệu, WCF được sử dụng để giao tiếp với các thành phần trên lớp Client.

4. Lớp VMM 2008 Managed

Lớp VMM 2008 Managed chứa các đối tượng là máy chủ đang vận hành các máy ảo, các máy chủ tài nguyên P@V và VMM server Library. Các thành phần trong lớp này như Microsoft Virtual Server, các máy chủ Hyper-V và VMM library Server liên lạc thông qua giao thức WinRM. Còn quá trình vận chuyển giữa VMM server và các máy chủ tài nguyên P2V thì sử dụng Distributed Component Object Model (DCOM). Khi liên lạc với SQL Server thì công nghệ ADO.NET được sử dụng. Cuối cùng là khi quản lý các máy chủ Vmware EXS thì sử dụng HTTPS.

Distributed Component Object Model hoặc DCOM là một công nghệ độc quyền của Microsoft được sử dụng trong giao tiếp với các thành phần phần mềm trong mạng máy tính dựa. DCOM là một mở rộng của công nghệ COM của Microsoft và cung cấp các phương tiện thông tin cho các kiến trúc COM + server của Microsoft. Trong một môi trường phát triển phần mềm tùy chỉnh, COM có thể được dùng để tạo ra thành phần phần mềm tái sử dụng và các thành phần liên kết để xây dựng một ứng dụng phần mềm phân phối. DCOM đến một mức độ lớn hơn thành công trong việc giải quyết marshalling và thu gom rác thải vấn đề liên quan sử dụng DCE / RPC (Distributed Computing Môi trường / Remote Procedure Call).

DCOM cung cấp các API để tạo ra các thành phần, mà có thể tích hợp các ứng dụng tùy chỉnh hoặc ứng dụng đa dạng có thể giao tiếp với nhau. Trong khi đó, COM DCOM giúp các đối tượng trong một máy tính để tương tự như các đối tượng COM trong một máy tính khác và truy cập các thủ tục được sử dụng. Trong DCOM cả hai đối tượng từ xa và địa phương được truy cập trong cùng một cách thức.

Sử dụng DCOM có nhiều thuận lợi phục vụ dựa trên web phát triển phần mềm. Một trang web duy nhất có thể giao tiếp với các máy chủ web khác nhau (ngoài máy chủ web riêng của mình) cùng một lúc và phục vụ yêu cầu trình duyệt với các thông tin khác nhau. Ví dụ, bằng cách sử dụng DCOM, một cổng Tin tức có thể truy cập máy chủ web khác nhau trên toàn thế giới và thực hiện cuộc gọi thủ tục từ xa (RFC) để có được thông tin đa dạng cùng một lúc.

Microsoft cung cấp các giao diện DCOM cho dịch vụ ứng dụng khác nhau dựa trên Windows như Microsoft Active Directory (AD), Microsoft Message Queuing (MSMQ), Windows quản lý và Instrumentation (WMI)…

Công ty phát triển phần mềm thích DCOM vì nó có thể tận dụng các lưu lượng mạng và giao thức mạng mà không cần thực hiện các thông số mạng hoặc các kênh truyền thông khác sử dụng mạng. Ngoài ra, DCOM cung cấp bảo mật mạnh mẽ để ứng dụng phân tán mà không có bất kỳ mã hóa bảo mật liên quan đến hoặc thiết kế trong thành phần hoặc máy khách.

Trong việc cung cấp một bộ các dịch vụ phân phối, DCOM tương đương với CORBA (Common Object Request Broker Architecture) được sử dụng trong các môi trường không phải của Microsoft. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế phân phối mới để giao tiếp với nền tảng khác nhau trên Internet đã, trên thực tế được hưởng lợi của người sử dụng đến một mức độ lớn hơn. Ngoài ra, DCOM có thể được chuyển sang môi trường khác tiêu chuẩn, chẳng hạn như nền tảng UNIX là tốt.

ADO.NET là một phần của .NET Framework, nó được xem là “bộ thư viện lớp” chịu trách nhiệm xử lý dữ liệu trong ngôn ngữ MS.NET. ADO.NET được thiết kế với dạng dữ liệu “ngắt kết nối”, nghĩa là chúng ta có thể lấy cả một cấu trúc phức tạp của dữ liệu từ database, sau đó ngắt kết nối với database rồi mới thực hiện các thao tác cần thiết. Đây là một sự tiến bộ về mặt thiết kế bởi vì thiết kế ADO trước đây luôn cần duy trì một kết nối trong quá trình thao tác dữ liệu.

5. Các Port sử dụng VMM 2008

Như đã biết VMM 2008 là tập hợp gồm nhiều thành phần khác nhau và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình các thành phần này đều phải liên lạc với các thành phần khác hoặc các máy chủ chạy ứng dụng ảo hóa. Các liên lạc trao đổi này hoạt động dựa trên các port tiêu chuẩn cho quá trình vận chuyển thông tin qua lại. Bới vì các thành phần của VMM có thể triển khai ở mức độ phân tán trải dài ra nhiều máy chủ trong hệ thống, nên đòi hỏi sử hiểu biết căn bản port nào sẽ được sử dụng đặc biệt là trong trường hợp hạ tầng có sự xuất hiện của Firewall. Bảng sau đây cung cấp trực quan các port được sử dụng trong VMM 2008. Chú ý rằng đây chỉ là mặc định trong hệ thống có một số sẽ yêu cầu thay đổi trong quá trình triển khai cài đặt VMM 2008.

Mô tả

Port

VMM Administrator Console đến VMM Server (WCF)

8100

VMM Administrator Console đến VMM Self-Service Portal (WCF)

80

VMM Server đến VMM Agent – Control (WinRM))

80

VMM Server đến VMM Agent – Data (BITS)

443

VMM Server đến SQL Database (HTTP)

1433

VMM Server đến tài nguyên ảnh P2V(WinRM)

135

VMM Library đến các máy chủ (BITS)

80

VM Host đến VM Host (BITS)

80

Duyệt các máy chủ Microsoft Virtual Server thông qua Self-Service Portal (VMRC)

5900

Duyệt các máy chủ Microsoft Hyper-V thông qua Self-Service Portal (RDP)

3389

VMM Administrator Console đến System Center OpsMgr (HTTP)

80

Virtual Machine Connection Tool

2179

VMM đến VMware ESX VI Web Services API (HTTPS)

80

Posted on 26/10/2010, in Hyper-V, Microsoft, System Center and tagged , , , , . Bookmark the permalink. Để lại bình luận.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: