Monthly Archives: Tháng Một 2011

Tổng quan CRM–Hệ thống quản trị quan hệ khách hàng

Tổng quan về CRM

CRM là viết tắt của Customer Relationship Managemet – Quản trị quan hệ khách hàng. Đó là chiến lược của các công ty trong việc phát triển quan hệ gắn bó với khách hàng qua nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu và thói quen của họ. Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với với khách hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của mỗi công ty nên đây là vấn đề hết sức được chú trọng. Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu về CRM

Khái niệm cơ bản về CRM
CRM là viết tắt của Customer Relationship Managemet – Quản trị quan hệ khách hàng. Đó là chiến lược của các công ty trong việc phát triển quan hệ gắn bó với khách hàng qua nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu và thói quen của họ. Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với với khách hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của mỗi công ty nên đây là vấn đề hết sức được chú trọng. Có nhiều yếu tố công nghệ liên quan tới CRM nhưng không phải CRM là một thuật ngữ công nghệ thuần tuý. Các hiểu đúng nhất đối với CRM là: Đó là toàn bộ các quy trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về khách hàng, hàng bán, hiệu quả của các công tác tiệp thị, khả nǎng thích nghi của công ty đối với các xu hướng của thị trường nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty.

Read the rest of this entry

Tổng quan System Center Virtual Machine (SCVMM) – Phần cuối

Trong phần cuối này tôi sẽ cung cấp đến mọi người thành phần cuối cùng trong gói SCVMM là Self-Service Portal.

Self-Service Portal là một Website dựa trên đó những người dùng được ủy quyền có thể quản lý các máy ảo đang có cũng như tạo mới máy ảo dựa trên các Template được cấu hình sẵn từ trước và lưu trữ trong Library.

Self-Service Portal có thể được cài đặt trên bất kỳ máy chủ nào thuộc domain, bao gồm các máy chủ đang chạy thành phần VMM Server nhưng ngoại trừ việc không được đặt chung với Domain (vì mức độ an toàn). Với việc triển khai tính năng này trong hệ thống cho phép bạn trở thành một nhà cung cấp dịch vụ không như hosting cũng như VPS mà cái bạn cung cấp là một “hạ tầng ảo” qua đó người dùng có thể tự triển khai hệ thống ảo từ cài đặt, kết nối, cấu hình dịch vụ… cho riêng mình với hạ tầng ảo được cung cấp. Hoặc với trường hợp là một trung tâm giảng dạy bạn có thể cung cấp cho từng học viên của mình cả một hạ tầng ảo để triển khai thử nghiệm các bài Lab cần thiết mà không cần triển khai cả một hệ thống máy vật lý cấu hình mạnh trong mỗi phòng học …Trong chương này sẽ cung cấp các hướng dẫn cơ bản nhất xoay quanh vấn đề cài đặt, cấu hình cũng như quản trị một Self-Service Portal.

1. Cài đặt Self-Service Portal

Self-Service Portal hơn hẳn các thành phần khác trong VMM 2008 chính là khả năng có thể hoạt động trên tất cả phiên bản hệ điều hành Windows Server 2008 và Windows Server 2003 SP2. Theo đó yêu cầu trước mắt cho việc dựng một Slef-Service Portal là Internet Information Service 6.0 (IIS) hoặc hơn phải được cài đặt trước khi cài đặt Portal. Ngoài ra trong Windows Server 2008 hai role IIS6 Metabase Conpatibility và IIS 6 WMI Conpatibility phải được cài đặt trước khi dựng portal.

Read the rest of this entry

Lý do ra đời cho công nghệ Intel VT và AMD-V trong ảo hóa

Về lý thuyết, theo Intel, nhân HĐH làm việc ở lớp 0 (Ring 0, có chức năng cao nhất), cấp truy cập sâu nhất. BXL x86 truyền thống không thể chạy HĐH ảo ở lớp 0 vì cần phải chạy phần mềm quản lý các máy ảo (được gọi là hypervisor).
Kiến trúc x86 còn có 3 lớp nữa với chức năng giảm dần. Để đảm bảo tính ổn định, các HĐH hiện nay giới hạn ứng dụng làm việc ở lớp chức năng thấp nhất – Ring 3 (đây là lý do Windows XP có độ ổn định cao hơn so với DOS – HĐH cho phép các ứng dụng làm việc ở lớp 0). Vì vậy giải pháp hiển nhiên là HĐH của máy ảo được phân bổ ở 2 lớp còn lại.

Vấn đề là có một số mã lệnh x86 chỉ làm việc ở lớp 0. Để làm việc ở các lớp cao hơn, HĐH phải được viết lại (hay biên dịch lại) để tránh các lệnh này. Giải pháp này phổ biến trong thế giới Linux (IBM dùng kỹ thuật tương tự để chạy Linux trên mainframe), nhưng nó yêu cầu phải có mã nguồn HĐH và phải có lập trình viên am hiểu HĐH.

Để chạy HĐH nguyên bản ở ngoài lớp 0, hypervisor phải bẫy các lệnh bị cấm và mô phỏng chúng. Đây là giải pháp của VMware và môi trường mô phỏng DOS của Windows XP. Vấn đề là việc mô phỏng sử dụng nhiều nguồn lực tính toán và làm giảm hiệu suất hoạt động của hệ thống.

Read the rest of this entry

Mạng ảo trong Hyper-V–Phần 6

Trong phần cuối cùng này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số phương pháp cấu hình VLAN.

Trong phần trước của loạt bài này, chúng ta đã thảo luận về khái niệm của các VLAN có liên quan với Hyper-V. Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách cấu hình VLAN trong môi trường Hyper-V này.

Trước khi bắt đầu, chúng tôi muốn nói rằng việc sử dụng VLAN chỉ là một tùy chọn nếu các switch mạng của bạn có hỗ trợ VLAN. Như đã giải thích trong phần trước của loạt bài này, cả partition cha và partition con đều kết nối đến switch ảo, switch ảo này sẽ cung cấp sự hỗ trợ VLAN. Chính vì vậy mà bạn phải có một switch vật lý hỗ trợ lưu lượng VLAN.

Nói cách khác, nếu máy ảo cần truyền thông với máy ảo khác được hosting trên cùng máy chủ vật lý thì lưu lượng VLAN sẽ đi qua switch ảo, và như vậy truyền thông VLAN ở đây được hỗ trợ đầy đủ. Ngược lại, nếu một máy ảo cần truyền thông với partition cha và máy đó cũng được kết nối với switch ảo thì lưu lượng VLAN ở đây sẽ được hỗ trợ. Mặc dù vậy nếu máy ảo cần truyền thông với máy khách khác được host trên một máy chủ vật lý khác (hoặc cần truyền thông với một máy vật lý không nằm trong cùng partition cha với nó) thì dữ liệu sẽ đi qua mạng vật lý và switch vận chuyển lưu lượng cần phải hỗ trợ VLAN.

Switch mạng phải hỗ trợ lưu lượng VLAN, vì vậy adapter mạng của máy chủ cũng phải hỗ trợ VLAN. Do không phải tất cả các adapter mạng có thể hỗ trợ lưu lượng VLAN vì vậy bạn cần kiểm tra kỹ để bảo đảm rằng các adapter của máy chủ hỗ trợ VLAN trước rồi mới chuyển tiếp sang cấu hình VLAN. Gần cuối của bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách phát hiện xem adapter mạng có hỗ trợ lưu lượng VLAN hay không.

Read the rest of this entry

Wi-Fi Direct–công nghệ kết nối không dây thế hệ mới cho thiết bị di động

Wi-Fi Direct, một công nghệ cho phép kết nối không dây từ thiết bị này đến thiết bị khác và sử dụng ngay các chuẩn Wi-Fi hiện tại, vừa được Liên minh Wi-Fi (Wi-Fi Alliance) phê chuẩn trở thành một công nghệ áp dụng thực tiễn vào ngày 26/10.

alt

Công nghệ kết nối Wi-Fi Direct có thể giúp bạn kết nối không dây mọi lúc mọi nơi rất tiện dụng

Được giới thiệu lần đầu tiên tại triển lãm CES 2010 diễn ra vào đầu năm nay, Wi-Fi Direct là một công nghệ mới được thiết kế nhằm cho phép những kết nối Wi-Fi ngang hàng (P2P) giữa các thiết bị như smartphone, laptop và máy ảnh số mà không cần phải có một mạng Wi-Fi truyền thống hoặc phải cần các thiết bị phát sóng Wi-Fi (access point).

Read the rest of this entry

Microsoft Webmatrix – Công cụ thiết kế, lập trình web

clip_image001

WebMatrix, một công cụ miễn phí nhằm đơn giản hóa việc phát triển các ứng dụng Web trên nền tảng ASP.Net của Microsoft. Đây là một sự bổ sung cho nền tảng Web của Microsoft dành cho việc xây dựng và run các website trên nền tảng Windows, WebMatrix dành cho các nhà phát triển ở mọi cấp độ kỹ năng. Bạn có thể tải về miễn phí tại trang chủ của trang chủ của WebMatrix.

“WebMatrix là một công cụ chuyên biệt được thiết kế để đơn giản hóa quá trình tiếp cận phát triển Web,” Scott Guthrie, phó chủ tịch bộ phận Microsoft Developer Division giới thiệu về phần mềm này trên blog của mình. “Nó làm giảm thiểu số lượng các khái niệm mà chúng ta cần tìm hiểu nhằm đơn giản hóa mọi thứ, chứa và tích hợp tất cả những gì bạn cần để nhanh chóng xây dựng các trang Web.”

Read the rest of this entry

Tổng quan System Center Virtual Machine (SCVMM) – Phần 12

XII. Tìm hiểu và cấu hình User Roles trong VMM 2008

Với VMM 2008 người quản trị được cung cấp một sức mạnh đáng kể trong việc điều khiển thông qua một môi trường ảo hóa phân tán. Với khả năng như thế thì cũng đồng nghĩa với việc gánh vác một trách nhiệm khá lớn. Một tài khoản người dùng VMM với đầy đủ đặc quyền có thể tạo , cấu hình và hủy các máy ảo cũng như bất cứ lưu trữ nào với vài cú click chuột nhưng thảm họa sẽ nhanh chóng xảy ra khi mà ai cũng có đặc quyền như thế trong hệ thống.

Do đó sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi mà VMM 2008 cung cấp khả năng điều khiển phân phối người dùng nào có quyền truy cập vào vùng quản lý và họ có thể làm gì khi họ được phép truy cập vào vùng quản lý. Điều này được thực hiện nhờ các User Roles. Roles là khái niệm định nghĩa ra hành động nào sẽ được thực thi trong môi trường VMM 2008. Sau đó là phân bố người dùng trong hệ thống là thành viên của một trong các Role được tạo ra cho phép giới hạn các hành động cho phép dựa theo các quy định đặt ra trong Role.

1. Các loại User Roles

Một User Role được tạo ra dựa trên các mức độ truy cập sau đây:

  • Administrator Role – đây là mức độ truy cập cao nhất, thành viên thuộc Role này có đầy đủ đặc quyền truy cập và không giới hạn đến tất cả các chức năng trong VMM Administrator Console. Bên cạnh đó những thành viên thuộc Role này còn có thể tạo ra các Delegated Administrator RoleSelf-Service Role. Thông thường mặc định những thành viên có mức truy cập này đều thuộc nhóm Administrators Local. Tuy nhiên nên nhớ rằng chỉ có duy nhất một Administrator Role trên hệ thống VMM 2008 và không thể tạo thêm bất cứ một Administrator Role nào.
  • Delegated Administrator Role – Role này có thể được tạo ra nhờ các thành viên thuộc Administrator Role hoặc một thành viên của Delegated Administrator Role khác. Điều đáng lưu ý là thành viên thuộc Delegated Administrator role có mức độ truy cập tương tự như thành viên thuộc Administrator Role nhưng truy cập vẫn bị giới hạn ở những host, máy ảo và VMM Library Server chỉ định tại thời điểm tạo Role.
  • Self-Service User Role – Thành viên của mức độ truy cập này được quyền sử dụng VMM Slef-Service Portal để thực thi các nhiệm vụ đặc biệt trên máy ảo chứ không được sử dụng VMM Administrator Console. Các hành động cho phép (như start, stop, và xóa máy ảo thông qua Portal) được định nghĩa ra suốt trong quá trình tạo Role và có thể tùy chỉnh lại trong VMM Administrator bởi một administrator.

2. Tạo mới Delegated Administrator Role

Read the rest of this entry

Tổng quan System Center Virtual Machine (SCVMM) – Phần 11

XI. Chuyển máy ảo VMware sang Hyper-V (V2V) dùng VMM 2008

Những máy ảo đang hoạt động trên hệ thống ảo hóa VMware hiện nay cho phép chuyển đổi và vận hành với môi trường Microsoft Hyper-V và Virtual Server dùng tính năng Virtual to Virtual (V2V) của VMM 2008. Các máy ảo đã được tạo ra bằng VMware Server, VMware WorkstationVMware ESX có thể chuyển đổi bằng công cụ này.

Không như tính năng trước đây là Physical to Virtual (P2V), V2V không thể được thực hiện khi mà máy ảo đang hoạt động . Thay vào đó tiến trình chuyển đổi V2V yêu cầu tắt máy ảo và import các VMware virtual disk (.vmdk) và tập tin cấu hình (.vmx) vào trong VMM 2008 Library trước khi thực hiện quá trình chuyển đổi. Nếu không làm theo yêu cầu tắt máy ảo thì thay vào đó quá trình chuyển đổi P2V online sẽ được thực thi đơn giản là nó đối xử máy ảo như một hệ thống máy vật lý thật.

Một khi các tập tin máy ảo VMware được cật vào trong VMM Libray, tiến trình chuyển đổi sẽ chuyển VMware tập tin đĩa ảo .vmdk sang một virtual hard disk (.vhd) và mô phỏng lại toàn bộ thiết lập phần cứng máy ảo phù hợp với môi trường Hyper-V hoặc Virtual Server.

1. Hệ điều hành máy khách hỗ trợ V2V

Quá trình chuyển đổi V2V trong VMM 2008 có thể thực thi được trên các hệ điều hành máy khách sau:

  • Windows Server 2008 (32-bit)
  • Windows Server 2008 (64-bit)
  • Windows 2000 Server SP4 hoặc hơn
  • Windows XP Professional (32-bit) SP2 hoặc hơn
  • Windows XP Professional (64-bit) SP2 hoặc hơn
  • Windows Vista Service Pack 1 (32-bit)
  • Windows Vista SP1 hoặc later (64-bit)

2. Thêm tập tin VMware vào VMM Library

Như đã biết bản chất thực sự của VMM Library là một thư mục chia sẻ trong hệ thống trong đó lưu trữ các tập tin hệ thống, templates… Đường dẫn mặc định cho VMM Library được chia sẻ trên một VMM Libray Server với tên gọi là MSSCVMMLibrary.

Read the rest of this entry

Microsoft Dynamics–Bộ giải pháp quản lý doanh nghiệp

Chức năng của Microsoft Dynamics

Microsoft Dynamics là một bộ các giải pháp quản lý doanh nghiệp hỗ trợ việc quản lý tài chính, mối quan hệ khách hàng và chuỗi cung ứng. Có thể nâng cấp, hoạt động tương thích và dễ tùy chỉnh theo cách thức làm việc của mỗi nhân viên – các giải pháp này được thiết kế nhằm giúp tự động hóa các quy trình kinh doanh chuyên biệt của bạn, đưa doanh nghiệp đến với thành công. Ứng dụng Microsoft Dynamics giúp giải quyết các nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp trong:

Quản lý tài chính

ược xem là trụ cột trong một giải pháp quản lý doanh nghiệp, các giải pháp về nghiệp vụ kế toán và tài chính của Microsoft Dynamics giúp doanh nghiệp theo dõi và phân tích thông tin kịp thời. Nhờ đó, bạn có thể quản lý hiệu quả hơn số liệu của sổ cái kế toán, các khoản phải thu và phải trả, hàng tồn kho, quy trình bán và mua hàng, tài sản cố định và lưu chuyển tiền tệ cũng như việc thực hiện đối chiếu số dư và nhờ thu qua ngân hàng.

Read the rest of this entry

Thiết lập hệ thống mail online cho doanh nghiệp với Google Apps

I. Tổng quan:

Google Apps có rất nhiều ứng dụng trực tuyến cho phép những doanh nghiệp bỏ ra số tiền rất ít nhưng đem lại hiệu quả công việc nhất định, hầu hết những gói sản phẩm này là miễn phí rất thích hợp cho những doanh nghiệp, tổ chức nhỏ lẻ. Vì hầu hết các ứng dụng đều thông qua giao diện web nên khá tiện lợi và dễ dàng cho người sử dụng, ngoài ra với đội ngũ hỗ trợ chuyên nghiệp 24/7 thì bạn có thể yên tâm nếu phát sinh lỗi trong quá trình hoạt động.

clip_image002

“Điều hành doanh nghiệp của bạn, chứ không phải máy chủ e-mail của bạn” Câu Slogan tại http://www.google.com/apps/intl/en/business/gmail.htmlnói lên thông điệp gợi ý chúng ta nên tin tưởng và giao trách nhiệm quản lý hệ thống mail cho google còn chúng ta chuyên tâm làm công việc kinh doanh của mình.

Nếu doanh nghiệp chúng ta là doanh nghiệp dạng vừa và nhỏ, số lượng nhân viên trong cty sử dụng mail không nhiều thì và chi phí dành cho CNTT ít thì nên sử dụng gói Standard của google apps (gói miễn phí với số lượng giới hạn không quá 50 mailbox). Còn nếu doanh nghiệp, tổ chức lớn thì chúng ta có thể sử dụng gói Primier ($50 / tài khoản người dùng / năm) tích hợp thêm nhiều tính năng tiện lợi cho người dùng và giúp việc quản lý tốt hơn. Thêm thông tin chi tiết giữa 2 phiên bản Standard và Premier.

http://www.google.com/apps/intl/en/group/index.html

Read the rest of this entry