Monthly Archives: Tháng Mười Một 2011

VMware vSphere 4: Tổng quan virtual network (P.2)

Qua phần 1 của loạt bài về netowrk này hẳn các bạn đã nắm rõ sơ bộ về “hình hài” của hệ thống virtual network trong VMware vSphere 4. Nếu chưa rõ vui lòng xem lại VMware vSphere 4: Tổng quan virtual network (P.1). Tiếp theo loạt bài này chúng ta sẽ đi sâu về các thuật ngữ , các tính năng tùy chọn trong một Virtual Switch (vSwitch lẫn vDSwitch).

Trước hết chúng ta cần view lại một tý về một ví dụ điển hình khi thiết kế một vSwitch

image

Trong ví dụ bên trên là một vSwitch điển hình với một Port Group dành cho máy ảo và một VMkernel dành cho việc quản lý, vmotion, smotion… của máy host. Và ở đây chúng ta cần nhắc lại một số quy tắc:

  • Một vNic chỉ plug được một port trong portgroup trên vSwitch
  • Một host có thể có nhiều vSwitch cùng tồn tại
  • Một vSwitch có thể có nhiều port manangement cũng như có thể có nhiều port group với các policy khác nhau như Vlan, security, control I/O network…
  • Và để traffic network để đi ra được hệ thống switch physical thì chúng ta cần một đến nhiều uplink (NIC physical) khi mà một vSwitch có hơn hai uplink thì một tính năng đặc biệt sẽ có trong từng Port Group được gọi là NIC teaming

Read the rest of this entry

Tài liệu VMware vSphere

Trong thời điểm hiện tại VMware vẫn là một đại diện đẫn đầu trong nền công nghiệp ảo hóa máy chủ cũng chính đều này đã thúc đẩy nhu cầu ảo hóa của doanh nghiệp dẫn đến nhu cầu học tập công nghệ VMware trong xã hội ngày càng cao. Chập chững khởi động vào cuộc những công nghệ mới kiến không ít cá nhân choáng ngợp trước sự dày đặc của các bộ tài liệu ebook. Trước tình hình này trong bài viết này sẽ đem đến cho mọi người những cuốn ebook mà tôi ưng ý nhất cho việc học tập ảo hóa VMware bao gồm:

Sybex Mastering VMware vSphere 4

Tổng hợp toàn bộ các kiến thức căn bản về phiên bản VMware vSphere 4: Network, storage, HA, Install, config….

image

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG IMAGE BUILDER TẠO CÁC BẢN CÀI ĐẶT ESXi

I. Nội dung

Vmware vSphere Image Builder (IB) là một trong những công cụ được phát triển với mục tiêu thay đổi, biên tập lại và tạo ra các bạn cài đặt vmware vsphere theo chuẩn của môi trường doanh nghiệp. Đơn cử là đưa ra một cấu trúc hoạt động từ đó người dùng có thể thêm bớt các thành phần (agent, plugin…) của vmware hay hãng thứ ba vào một đối tượng gọi là Image Profile như một bản template phù hợp nhất với môi trường hoạt động hiện tại. Từ đối tượng Image Profile này người dùng có thể xuất ra các tập tin ISO dùng cho việc cài đặt vSphere Hypervisor thông thường hoặc thay vào đó có thể đưa Image Profiel này thành một Template Rule hỗ trợ cho AutoDeploy việc tự động hóa triển khai Vmware vSphere. Tuy nhiên bộ công cụ này sử dụng command line (PowerCLI của Vmware) thay vì giao diện nên đòi hỏi kinh nghiệm trong việc sử dụng giao diện dòng lệnh.

Một số thuật ngữ chính cần nhớ:

VIB – đây là một dạng chuẩn tập tin đặc biệt do Vmware đưa ra nhằm cung cấp một tiêu chuẩn về việc tích hợp các gói driver, agent, plugin… theo chuẩn VIB này vào các profile template nhằm tạo ra các bản cài đặt bundle sẵn các thành phần cần thiết

Depot – là một không gian lưu trữ các thành phần cần thiết cho quá trình tạo profile hay thêm VIB. Không gian này chỉ giữ trong một session PowerCLI và nó có thể được import thông qua một goi tập tin ZIP download từ Vmware hoặc trên internet còn dạng thứ hai là một đường URL trỏ đến tập tin XML của vmware liệt kê các thành phần được update mới liên tục các thành phần này là các plugin, agent, driver, các bản Image Profile mẫu …của Vmware hoặc cũng có thể là dường link XML chứa các gói phần mềm của hãng thứ ba.

Profile – là một đối tượng chính trong phiên làm việc với Image Builder chịu trách nhiệm làm template tiếp nhận thay đổi việc thêm bớt các gói package VIB.

Các bước thao tác để tao ra một một bản image chuẩn gồm:

– Import Depot à thao tác này sẽ cung cấp cho chúng ta các profile chuẩn từ VMware

– Tạo Profle mới từ profile chuẩn thông qua bước trên

– Thêm/xóa các thành phần VIBs (agent,Plugin…. của vmware hoặc hãng thứ ba) trong profile vừa khởi tạo

– Xuất Profile vừa hiệu chỉnh xong ra bản ISO hoặc bản ZIP (depot) để dành cho các hiệu chỉnh thêm về sau

Read the rest of this entry

VMware Workstation 8

VMware Workstation 8 là chặn đường tiến tới công nghệ cloud computing. Với hơn 50 tính năng mới, nó sẽ thay đổi đáng kể cách thức bạn làm việc với các máy ảo. Tiết kiệm thời gian, tăng cường hợp tác, và làm nhiều hơn những gì bạn từng nghĩ có thể làm việc với máy PC.

VMware Workstation 8 ra đời hồi nào thì mình không biết, chỉ thấy trên trang chủ của VMware giới thiệu khá là ấn tượng, nên trong bài viết này mình xin giới đến các bạn các tính năng mới mẻ có trong VMware Workstation 8.

Truy cập bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào

Access Anytime, Anywhere

Read the rest of this entry

Hướng dẫn reset root password với Single Mode

CentOS

– Vào một ngày đẹp trời nọ, bạn login vào server với mật khẩu root vẫn hay dùng thì nó cứ thế này:

Using username "root".
root@210.211.108.130's password:
Access denied
root@210.211.108.130's password:
Access denied

– Quá đau lòng, có thể do đêm qua thất tình nhậu xỉn về thay password root từ tên em Lan thành em Đào nhưng gõ lộn ra em Cóc Me nào đó crying . Tinh thần bắt đầu hoản loạn, hết say xỉn mà đầu óc vẫn quay mòng mòng d'oh . OK, bình thường như người qua đường không có gì phải sợ devil

– Hướng dẫn dưới đây sẽ giúp các bạn hay quên như tớ reset lại mật khẩu root bằng cách boot vào single mode, hướng dẫn này chỉ áp dụng cho các server Linux sử dụng GRUB Boot Loader, đối với LILO thì mình sẽ hướng dẫn sau nhé winking. OK bắt đầu nhé!

Read the rest of this entry

Tổng quan công nghệ Raid-DP

Trong môi trường vận hành tồn tại nhiều công nghệ Raid khác nhau để hỗ trợ nâng cao hiệu suất I/O cũng như xử lý HDD failed. Trong đó, ta biết tới một kỹ thuật đặc  biệt được  sử  dụng để  xây  dựng RAID đó là kỹ  thuật  “Parity  RAID”.  Đây là phương pháp bảo vệ an toàn cho dữ liệu sử dụng phương pháp tính toán các giá trị “ chẵn – lẻ ” trực tiếp trên dữ liệu. Hai công nghệ RAID điển hình sử dụng kỹ thuật này là RAID 4, 5, 6 như được trình bày trong khá nhiều bài viết trên mạng.

Với  kỹ  thuật  parity  sử  dụng  trong  RAID  4,  RAID  5  hiện  nay  chỉ  thực  hiện  tính toán Parity 1 lần cho từng hàng dữ  liệu trong một nhóm RAID, hay còn gọi là Single  – Parity  RAID ngoài ra còn có Raid 6 hơi biến đổi là nhân đỗi parity.  Kỹ  thuật  này  chỉ  cho  phép  bảo  vệ  sự  an  toàn  cho  hệ  thống trong trường hợp có 1 đĩa trong 1 nhóm RAID bị sự cố. Khi đó hệ thống có thể dựa trên giá trị Parity, và các giá trị dữ liệu còn lại để phục hồi lại dữ liệu bị mất trên đĩa bị hư. Việc xây dựng này chỉ thành công nếu trong quá trình phục hồi dữ liệu không có 1 đĩa nào khác bị sự cố, hoặc dữ  liệu có sự  thay đổi, hay  có 1  bít lỗi  không  thể  sửa được xảy ra trong quá  trình đọc dữ liệu phục vụ cho quá trình tái tạo dữ liệu bị mất. Ngược lại thì có thể một vài dữ liệu sẽ bị mất hoặc toàn bộ dữ liệu chứa trong dãy đĩa có thể bị mất hoàn toàn.

Như vậy  với  kỹ  thuật  Single  –  Parity này  thì những loại đĩa lưu trữ  hiện đại,  với dung lượng lớn như hiện nay thì khả năng bảo vệ dữ liệu của nó bị hạn chế. Do dó, hiện nay đã phát triển 1 công nghệ  RAID  mới  với kỹ  thuật  Double  –  Parity,  hay còn  gọi là RAID  –  DP  (là  một  thể  hiện  với  khả  năng thực  thi  cao  của  RAID6),  khắc  phục được những nhược điểm  trên  của  kỹ  thuật  Single  –  Parity.  RAID  –  DP  đã  sẵn sàng để  được triển khai trên nhiều thiết bị lưu trữ mạng. 
image

Read the rest of this entry