Tổng quan giải pháp Veeam Backup & Replication v6 – P2

Chào mừng các bạn đến với phần hai của loạt bài về giải pháp backup của veeam trong phần này chúng ta sẽ tiếp tục phần tổng quan xoay quanh kiến thức về các backup mode và backup methods mang VBR mang lại.

Danh mục tổng thể so với phần I như sau:

I Giới thiệu

II. Tổng quan

1. Các thành phần hoạt động

2. Các mô hình thiết kế chuẩn cho giải pháp Veeam backup & replication

3. Các mode backup trong VBR

4. Các phương thức lưu trữ backup trong VBR 

3. Các mode backup trong VBR

Với Veeam backup cũng như các giải pháp sao lưu cho hạ tầng ảo sẽ hoàn toàn khác biệt so với truyền thống. Với truyền thống dữ liệu cần quan tâm backup chính là các tập tin, data của “ứng dụng” còn đối với hạ tầng ảo ứng dụng, guestOS là những khái niệm mà các phần mềm backup về sau không còn quan tâm đến nữa mà cái chúng quan tâm chính là tập hợp các tập tin của máy ảo (.vmdk, .vmx, snapshot…). Chính vì điều đó nên sản sinh ra một số phương thức backup đặc thù khác biệt dành cho hạ tầng ảo:

  • Network Mode
  • Virtual Appliance Mode
  • Direct San Access Mode

+ Network Mode

Network Mode là chế độ căn bản nhất cho việc xác định môi trường ethernet là mội trường truyền các dữ liệu backup. Với phương thức này có một số lưu ý sau:

  • Worload đè nặng lên cả Host ESXi đang hosted VM và cả Backup Proxy do phải nhận và xử lý các dữ liệu backup (nén, dedup) trước khi lưu trữ trong repository
  • Dễ gây nghẽn đường truyền management của ESXi do ip tương tác với host là ip dùng làm management
  • Tốc độ xử lý backup cho phương thức này là chậm nhất so với các phương thức khác

image

Qui trình làm việc của Netowork mode:

Bước đầu Backup server sẽ quản lý job backup và quyết định backup proxy và backup repository nào sẽ đảm nhận vai trò proxy và repo trong danh sách có sẵn (theo mặc định). Tiếp đó qui trình backup khép kín sẽ diễn ra như sau:

1. Backup Proxy được chọn sẽ gửi các request cần thiết đến ESXi host để xác nhận vị trí VM trên datastore (line 1)

2. Host đang hosted VM đó sẽ bắt đầu snapshot VM và sao chép các block data và gửi chúng cho bakup proxy xử lý thông qua đường ethernet (line 3,4)

3. Backup Proxy sau khi xong nhiệm vụ xử lý của nó sẽ chuyển data cần lưu trữ cho Backup repository (5)

4. Xóa snapshot trên VM

+ Virtual Appliance Mode

Đây là một mode đặc biệt chỉ dành cho khái niệm môi trường ảo hóa và server đóng vai trò Backup Proxy phải là một “máy ảo” trên chính môi trường có các VMs cần backup. Mode này dự trên khả năng Hot-add các SCSI device ảo của ESXi để mount các disks của VM cần backup lên proxy server sau đó trực tiếp đọc các block dữ liệu thông qua các cổng giao tiếp SAN của host ESXi thay vì thông qua network như bước 2,4 của Network Mode lợi điểm của nó chính là tận dụng được hiệu suất của môi trường SAN mang lại so với việc đi qua network mode ảnh hưởng management network. Tuy nhiên việc lưu trữ dữ liệu backup cũng sẽ như line 5 của netowrk mode là thông qua ethernet (cho NFS,CIFS,iSCSi) và SAN based tiếp tục nếu áp dụng RDM, Virtual Disks…

Chú ý một chi tiết: Backup Proxy bắt buộc phải nằm trên Host được cấu hình “thấy” được tất cả các VMs files trên hệ thống SAN. Vì chỉ thấy được các VMDK file thì ESXi mới mount chúng lên backup proxy được.

image

Qui trình làm việc của Virtual Aooliance Mode:

1. Backup server xác định các thông tin về VM, vị trí datastore và thông qua Backup Proxy gửi request snapshot trên VMs để lock các vmdk file

2. Tiến hành mount VMDK file lên Backup proxy xác định (tự động hoặc admin tự xác định trước)

3. Thông qua các giao tiếp với SAN của ESXi host thì máy ảo Backup Proxy tiến hành đọc các block dữ liệu và xử lý đưa về Backup Repo

4. Cuối cùng là detach các VMk file và remove snapshot khỏi VM

+ Direct SAN Access

Đây cũng là một mode đặc biệt thay đổi hoàn toàn suy nghĩ về backup trong môi trường ảo. Mode này so với những mode khác về “đường” data như hình bên dưới chúng ta sẽ thấy dữ liệu giờ đây đi trực tiếp từ SAN lên backup proxy thông qua môi trường SAN network và tiêp tục xử lý để đưa về repo server.

Như thế qui trình hoạt động chính xuyên suốt của dữ liệu sẽ là line 5 và 6 ít “trạm trung chuyển” trong khi với các mode khác lại tốn quá nhiều “trạm trung chuyển”:

  • Network Mode: SAN –> ESXi –> Backup proxy –> Backup Repo
  • Virtual Appliance mode: SAN –> “Storage stack của ESXi” –> Backup Proxy –> Backup Repo
  • Direct San Access: SAN –> Backup Proxy –> Backup Repo

Note: Với phương thức này đòi hỏi Backup Proxy phải được cấu hình đặc biệt thấy được tất cả các LUN trên SAN (chỉ support các dạn SAN block level như FC hay iSCSi không support NFS)image

Qui trình làm việc:

1. Backup Server xác định các thông tin của VMs cần backup sau đó thông qua Backup proxy tiến hành snapshot VM.

2. Backup Proxy thông qua môi trường SAN tiếp cận trực tiếp các VM Files đang nằm trên SAN và tiến hành backup, xử lý và đưa về Backup repo

3. Remove snapshot VM

4. Các phương thức lưu trữ backup trong VBR

Mục này chúng ta sẽ tìm hiểu VBR hỗ trợ cách thức lưu trữ các dữ liệu backup của VM như thế nào thông qua hai cơ chế :

  • Reversed incremental backup
  • Forward incremental backup

Ngoài ra VBR còn hỗ trợ hai tùy chọn backup khác hỗ trợ cho hai phương thức trên:

  • Synthetic Full
  • Active Full Backup

+ Reversed incremental backup

Đúng như tên gọi cũng như giống với cách thức lưu trữ backup truyền thống phương thức này sẽ chỉ backup các thay đổi của dữ liệu tức các thay đổi trong các VMDK của máy ảo. Việc xác định sự thay đổi được support trực tiếp từ VMware thông qua công nghệ gọi là Change Block Tracking (tương tự như bit cờ trong windows) công nghệ này sẽ cho phép “đánh dấu” sự thay đổi dữ liệu của các file VMDK trong quá trình sử dụng so với lần backup trước đó. Quay trở lại với Reversed incremental backup chúng ta sẽ có qui trình từ đầu như sau:

  • Lần backup đầu tiên khi dùng phương thức này sẽ tạo ra một bản full backup (chú ý trong VBR không có định nghĩa một phương thức full backup riêng lẽ mà sẽ là một option trong các incremental backup) như thế backup lần đầu sẽ bắt buộc sử dụng tùy chọn là full backup. Sau đó lưu với fileđuôi .vbk
  • Lần backup sau sẽ sử dụng phương thức backup incremental (chỉ backup các block dữ liệu khác biệt so với lần backup trước đó). Kết quả sẽ cho ra một tỗ hợp các block dữ liệu mới.
  • Các “block dữ liệu mới” sau khi được tiếp nhận sẽ được tổ hợp với file .vbk full backup trước đó để tạo ra bản backup full có trạng thái dữ liệu mới nhất. Đồng thời bên cạnh đó hệ thống sẽ tự tạo ra các bản reversed incremental backup file .vrb chứa các “block dữ liệu cũ” đã bị thay thế bởi “các block dữ liệu mới” . Như thế chúng ta sẽ luôn có một bản backup mới và gần nhất ở trạng thái full backup. Và toàn bộ qui trình này sẽ lặp lại thành một vòng đời backup.

image

Phương thức này hoàn toàn đem lại sự tin cậy và tiết kiệm cho người dùng với khả năng incremental forever và tiết kiệm dung lượng đĩa khi mà chỉ chứa một bản full backup trên hệ thống backup cũng như đảm bảo rằng việc tồn tại song song các reverse incremental cho phép người dung restore trở về từng thời điểm mong muốn.

+ Forward incremental backup

Tương tự như phương thức trên phương thức này cũng sẽ hỗ trợ vân đề backup sự thay đổi của các block dữ liệu tuy nhiên với cách lưu trữ hoàn toàn khác biệt và gần với truyền thống hơn:

  • Lần đầu sẽ là full backup như cách trên
  • Lần sau cũng tương tự sẽ backup các “block dữ liệu mới” nhưng thay vì tổ hợp lại thành một bản full thì đơn giản hơn cách thức này các lần backup sau lần backup thứ nhất chỉ backup “block dữ liệu mới” và chứa chúng trong file .vib

image

+ Synthetic Full

Tùy chọn Synthetic full được áp dụng đặc biệt riêng cho Forward incremental backup vì tính chất lưu trữ backup của nó. Điều đặc biệt ở đây chính là “vòng đời” tồn tại cho các bản backup. Mọi giải pháp backup đều cần có vòng đời nhất định lưu trữ backup trong 1 tuần, 1 tháng , 1 năm… VBR cũng cần hỗ trợ điều nay nhưng do tính chất đặc biệt của forward incremntal backup nên việc xoay chuyển vòng đời không dễ dàng vì nó là incremental forever các bản lưu trữ chỉ chứ các block mới thay đổi trong khi bản full là cái backup đầu tiên luôn cần tồn tại điều này trái với quy luật vòng đời backup.

Chính vì lẽ đó Synthetic full ra đời tính năng này giải quyết cái trái quy luật của bản full bằng cách cho phép định nghĩa chu kỳ tổ hợp lại bản full backup sao cho phù hợp với vòng đời lưu trữ backup của “doanh nghiệp”

image

Như ví dụ trên backup incremental sẽ luôn được thực hiện mỗi ngày trừ thứ năm hàng tuần sẽ từ bản full trước đó và các bản incremental đề tổ hợp ra bản backup full hoàn chỉnh.

Ngoài ra việc lựa chọn sử dụng Synthetic Full backup còn đem lại một tùy chọn nho nhỏ khác cho phép sau khi tạo lại bản full thì các bản backup trước bản full mới sẽ chuyển sang dang reversed incremental .vrb như thế sẽ luôn tồn tại một bả backup full trên hệ thống cho phép tiết kiệm không gian đĩa cứng.

Như ví dự trên sau khi tạo lại bản full ngày thứ năm thì từ chủ nhật đến thứ tư sẽ chuyển sang dạng reversed incremental tức file .vbr

image

+ Active Full Backup

Là tùy chọn nhằm cung cấp cho một số doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện full backup theo chu kỳ nhất định trực tiếp từ môi trường ảo chứ không thông qua cớ chế tổ hợp bản full đang có với các bản incremental để tạo ra bản full backup tức Synthetic full backup

Posted on 24/06/2012, in VEEAM and tagged , , , , , , , , . Bookmark the permalink. Để lại bình luận.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: